THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Tổng lượt truy cập: 0
  • Đang trực tuyến: 0

Giới thiệu về phương pháp kiểm tra từ trường xa (RFT)

01/06/2019

RFT đặc biệt thích hợp để phát hiện và định lượng sự giảm độ dày của tường. Các khuyết tật bên trong và bên ngoài có thể được phát hiện nhưng không phân biệt được. Kỹ thuật RFT không phù hợp cho việc kiểm tra các đường ống có vây. Với RFT, bề dày thành lớn hơn 12mm có thể kiểm định và tốc độ kéo từ 0.1m/s đến 0.3 m/s. Phương pháp này rất nhạy cảm với các thay đổi về độ dày của tường và có xu hướng ít nhạy cảm hơn với lực nâng đầu dò, định tâm, dao động và hệ số lấp đầy. 

1. Nguyên lý của phương pháp kiểm tra bằng từ trường xa (RFT):

Kiểm tra bằng trường từ xa là một kỹ thuật xuyên thấu. Đầu dò cơ bản được làm bằng một cuộn dây kích thích và hai cuộn dây bán tải. Có hai từ trường: trường trực tiếp, trong vùng lân cận của cuộn dây kích thích, bị suy giảm nhanh chóng theo khoảng cách trong khi trường gián tiếp lan truyền dọc theo trục ống và được tái phân bổ trở lại qua thành ống.

Đầu dò RFT được cấu tạo từ một bộ kích sóng và hai cuộn dây thu sóng đặt cách nhau một khoảng bằng 2 lần đường kính ngoài của ống hoặc hơn. Vùng đặt máy thu được gọi là vùng từ trường xa. Sau đó, các cuộn dây máy thu sẽ cảm nhận từ trường gián tiếp từ máy kích thích chứ không phải từ trường trực tiếp, thường được sử dụng với ECT.

Bất cứ khuyết tật nào nằm ở vị trí của máy kích thích và (hoặc) máy thu sẽ có tác động đến từ trường cuộn dây đọc được.

Kỹ thuật RFT nhạy cảm như nhau với các khuyết tật ID và OD, nó không thể được sử dụng để xác định xem hiện tượng mất thành ống xảy ra bên trong hay bên ngoài thành ống.

Hình 1: Nguyên lý phương pháp kiểm tra bằng từ trường xa (RFT)

2. Ưu và nhược điểm của phương pháp kiểm tra bằng từ trường xa (RFT):

- Ưu điểm:

  • Thích hợp cho các đường ống và ống sắt từ các loại được sử dụng trong nồi hơi và các bộ trao đổi nhiệt
  • Độ nhạy giống nhau đạt được với các khuyết tật bên trong và bên ngoài
  • Kỹ thuật tương đối không bị ảnh hưởng với việc nâng hay xê dịch đầu dò
  • Có thể sử dụng để kiểm tra thành ống rất dày (lên đến 12mm)
  • Hệ số lấp đầy thấp cho phép kiểm tra các ống được đóng cặn một phần và các ống được đóng cặn một phần và các ống nồi hơi có cấu hình phức tạp.
  •  Việc cố định đầu dò không quan trọng như đối với việc kiểm tra ECT. 

- Nhược điểm:

  • Một số hạn chế để phân biệt các khuyết tật ID và OD.
  • Việc đánh giá các sai sót nhỏ như vết rỗ cso thể khó khăn
  • Yêu cầu kỹ thuật và chuyên môn cao để phân tích và đánh giá dữ liệu
  • Các đường ống phải được làm sạch
  • Khả năng chính xác bị ảnh hướng nếu sự gián đoạn về hình học khác với gián đoạn hiệu chuẩn
  • Khó phát hiện các vết khuyết tật dưới các tấm đỡ và liền kề với tấm cuối
     

tin tức LIÊN QUAN

Không có thông tin cho loại dữ liệu này
Kiểm tra không phá hủy NDT Việt Nam
Kiểm tra không phá hủy NDT Việt Nam